• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5037148
  • Số người đang xem: 10
  • Trong ngày: 1797
  • Trong tuần: 23827
  • Trong tháng: 1204905
  • Trong năm: 4684925
Trang chủ

Tín ngưỡng thờ Cao Sơn – Quý Minh ở Bắc Giang

( 20:39 | 02/08/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Tín ngưỡng thờ Cao Sơn - Quý Minh làm thành hoàng làng không chỉ riêng ở Bắc Giang mà ở nhiều nơi trong các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cũng có. Song có điều sự tôn thờ hai vị  thần này ở Bắc Giang tương đối đậm đặc. Trong 10 huyện, thành phố của tỉnh thì huyện bào cũng có nhiều làng thờ cúng hai vị này. Đi theo sự thờ  cúng đó, còn có các lễ hội làng, lễ hội vùng với nghi thức rước các ngài đi tuần du địa vực. Lễ hội vùng là lễ hội liên kết nhiều làng lại thành một khối và cùng hướng về việc suy tôn, tôn vinh hai vị Cao Sơn - Quý Minh.

Lai lịch hai vị Cao Sơn - Quý Minh được ghi ở trong thần tích lưu cất ở đình làng. Song không phải làng nào cũng có thần tích các vị. Ở Bắc Giang mới chỉ phát hiện được hơn 10 nơi còn thần tích. Đa số chỉ còn thần sắc hoặc bài cúng, với duệ hiệu các thần.

Theo các thần tích cho biết: Hai vị thần này vốn là hai người có cha sinh mẹ đẻ rõ ràng, ở đời Hùng Vương thứ 18. Hồi ấy, Thục Phán xâm lấn bờ cõi, vua Hùng sai Tản Viên Sơn thánh tuyển quân, kén tướng chống lại Cao Sơn – Quý Minh đã tham gia vào đội ngũ tướng lĩnh của Tản Viên Sơn thánh đi đánh Thục Phán. Năm cánh quân của Thục Phán tiến vào đất Vua Hùng đều bị đánh tan. Thục Phán rút quân về nhưng lòng vẫn muốn đánh nữa để giành ngôi vua. Khi ấy, Vua Hùng không có con nối dõi, muốn nhường ngôi cho con rể là Tản Viên Sơn thánh, nhưng Tản Viên Sơn thánh một mực xin về núi Tản Viên để dạy dân làm ăn. Tản viên khuyên Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Cuối cùng Vua Hùng nghe theo và truyền ngôi cho Thục Phán.

Thục Phán nối ngôi, đổi tên nước Văn Lang của Hùng Vương thành Âu Lạc, và đời đô từ Bạch Hạc (Việt Trì) về Cổ Loa, tự xưng là Thục An Dương Vương – dựng đá thề ở Núi Hùng thề rằng: muôn đời con cháu sẽ tôn thờ các Vua Hùng. Cao Sơn – Quý Minh là hai vị được nhiều làng xã thờ cúng.

Trải suốt bao năm, các triều đại phong kiến đều có sắc phong cho các vị là thành hoàng các làng và cho phép các làng xã tiếp tục thờ cúng.

 Về cuộc xung đột giữa nhà Hùng với nhà Thục, lịch sử có ghi nhận. Nhưng hoàn cảnh lịch sử lúc ấy là nhà Tần ở Trung Hoa cho quân uy hiếp người Bách Việt, muốn thôn tính Bách Việt. Thủ lĩnh đất Thục chống lại quyết liệt. Người Việt khi ấy được phép ngày trốn vào rừng, đêm lại ra đánh. Trong tình hình đó, Thục Phán là vị thủ lĩnh đảm đương được nhiệm vụ chống quân Tần. Việc chuyển giao quyền lực chính trị từ Hùng Vương sang cho Thục Phán là từ mục đích cùng chống thế lực ngoại xâm. Như thế là chính đáng và như thế Thục Phán mới làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Kết cục sau khi ổn định tình hình, quân Tần kéo về nước, Thục Phán đã thống nhất hai nước Tây Âu và Văn Lang để cho ra đời nước Âu Lạc, mở ra một trang sử mới của nước ta.

Sử sách đã ghi cuộc kháng chiến chống quân Tần của người Việt là như thế. Nhưng sử sách không ghi việc xung đột giữa nhà Hùng với nhà Thục. Điều này chỉ thấy truyền tụng trong dân gian qua các tài liệu dã sử, như đã trình bày ở trên. Cuộc xung đột này cũng được một số nhà nghiên cứu lịch sử đề cập tới, và cho đó là xung đột nội bộ. Trong quá trình xung đột nội bộ ấy đang diễn ra thì có giặc ngoại xâm. Với tinh thần đoàn kết sẵn có của người Việt nên mâu thuẫn nội bộ đành gác lại để cùng nhau kết lại một khối tập trung chống ngoại xâm, bảo vệ giang sơn đất nước và giống nòi.

Các truyền tích, thần tích liên quan tới tín ngưỡng thờ Cao Sơn – Quý Minh là sự phản ánh một phần lịch sử của cuộc xung đột nội bộ giữa nhà Hùng với nhà Thục ở cuối thời Hùng Vuơng, tương ứng vào thời Tần ở Trung Hoa. Cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm. Việc tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Cao Sơn - Quý Minh sẽ góp phần hiểu thêm về lịch sử dân tộc ta trong bốn nghìn năm lịch sử. Qua đó, sẽ hiểu thêm tích cách, nhân cách của người Việt trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Trần Văn Lạng

;?>