• SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BẮC GIANG - Đ/C SỐ 74 Đ. NGUYỄN THỊ LƯU - P. NGÔ QUYỀN - TP. BẮC GIANG
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 1569256
  • Số người đang xem: 16
  • Trong ngày: 6344
  • Trong tuần: 26783
  • Trong tháng: 1217033
  • Trong năm: 1217033
Trang chủ

Giới thiệu cuốn sách: Thơ Anh Thơ

( 20:17 | 03/10/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Nữ sĩ Anh Thơ tên thật là Vương Kiều Ân, sinh năm 1921 tại thị trấn Ninh Giang tỉnh Hải Dương, quê quán thị xã Bắc Giang (nay là tp Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang. Trong suốt chặng đường sống, làm thơ và hoạt động cách mạng, bà luôn dành nhiều tình cảm cho quê hương và đã có nhiều bài thơ viết về Bắc Giang. Từ những năm ba mươi, thế kỷ trước trong làng văn chương đất Việt, đã xuất hiện một gương mặt lạ “Nữ sĩ áo trắng” đến từ “Bến sông Thương” của nữ sĩ Anh Thơ. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự ngưỡng mộ của đông đảo của bạn đọc và mhững người  làm VHNT trong tỉnh, năm 2002, Hội Văn học nghệ thuật Bắc Giang đã xuất bản cuốn sách “Thơ Anh Thơ” với mục đích vừa bảo tồn những tác phẩm có giá trị, vừa giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài tỉnh một cách đầy đủ và có hệ thống những tác phẩm quý giá nhà thơ. Tập sách dày 246 trang, in trên khổ 13 x 19cm.                 Anh Thơ xuất hiện trong phong trào thơ mới, tham gia cách mạng từ năm 1945, từng là Bí thư Hội Phụ nữ 4 huyện: Việt Yên, Lục Ngạn, Bắc Sơn, Hữu Lũng, sau đó là Thường vụ Hội Phụ nữ hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn. Từ năm 1957 là Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam (khóa 1 và 2), từ năm 1971 đến năm 1975 công tác tại tạp chí Tác phẩm mới; Ủy viên Thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật.         Tham gia trong làng văn chương đất Việt từ những năm ba mươi, với một hồn thơ tự nhiên, mang đậm nét hương đồng gió nội của một vùng quê thơ mộng,  nữ sĩ đã miêu tả rất sinh động về những vùng quê. Trong bài “Tôi đón tin vui Hà Bắc” viết năm 1967 nhân kỷ niệm ngày Hà Bắc bắn rơi chiếc máy bay thứ 102:                           Quê hương! Những đồng bằng sông Đuống.                                       Mùa về năm tấn cầm tayNhững đồi sỏi Hiệp Hòa đã khoác xanh câyNhững mương máng Bạch Đằng hẳn đang dậy sóng  Khoai Trung Hòa đã đi từng luống rộngRuộng chia bờ thửa bờ vùngMía ngọt An Châu, Quýt đỏ sông Thương”Con số hơn trăm tô ngời rực rỡ.… Con về sơ tán hai năm Quê hương nuôi lớnMẹ muốn hôn con.Khuôn mặt nhỏ hồng hơn hớnMột trăm linh hai chiếc hôn mừngXa Hà Nội - Về con đã góp chiến công chung          Xuất thân trong một gia đình công chức nhỏ, nhà thơ sớm tiếp nhận được nền văn học dân tộc, những chuyện cổ tích, những vần thơ lục bát, những khúc hát ru của mẹ đã thấm đượm trong các tác phẩm của bà. Tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước sâu đậm đã tạo nên nét riêng của thơ Anh Thơ.        Trong cuốn sách này, tập thể các tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu với người đọc những bài thơ của bà đã được Nhà nước tặng giải thưởng cao quý. Nội dung, bố cục cuốn sách được chia làm 3 phần, mỗi phần tập trung phản ánh hiện thực của đất nước qua mỗi thời kỳ khác nhau.            Phần I gồm 22 bài thơ với tựa đề: Kể chuyện Vũ Lăng. Đã từng đi qua nhiều địa danh khác nhau, đến đâu bà cũng có những tác phẩm để lại dấu ấn của vùng đất đó, vì vậy thơ của bà rất gần gũi với cuộc sống. Khi ở Hà Nội bà đã sáng tác bài thơ “ Người chiến sĩ”,  ở Bắc Sơn bà sáng tác bài  “Chị cán bộ kháng chiến”, ở Thái Nguyên, Phú Thọ có bài “ Đầu quân” vv… Nhưng, dù ở đâu bà vẫn nhớ về nơi quê nhà, chính vì vậy bà đã sáng tác bài thơ Nhà tôi:Nhà tôi ở trên đồi Yên ThếCỏ ràng ràng chổi xuể trắng hoaSau vườn khoai sắn tăng giaTrước sân đất mịn đàn gà vàng xinhGiàn mướp dựng xanh xanh bờ giếngĐêm trăng thường vẳng tiếng đàn vui                                                       ( Yên Thế - 1954 )          Năm 1955đến Thanh Hóa, bà đã không thể không vui cùng  những người nông dân nơi đây, vì vậy bài thơ  “Mùa cấy đầu tiên” được ra đời:                 Ruộng bên này, ruộng bên tê lộng lẫy                 Bóng nông dân tươi thắm giữa đồng xanh                 Đây mùa đầu cả xóm thôn vui cấy               Ruộng của mình, từng thửa ruộng đấu tranh                                                      (Thanh Hóa - 1955)       Vừa là nhà thơ và tham gia công tác phụ nữ, bà luôn quan tâm đến các đối tượng nữ, đến người nông dân. Bài “Hũ gạo kháng chiến” bà sáng tác để tặng các bà mẹ Bắc Giang năm 1948:                          Mẹ già còm cọm tối ngày                         Thắt lưng buộc bụng năm chày, lại năm                          Nhớ con bớt miếng cơm ăn                         Xót con, tấm cám cũng dành yêu thương.                                                              (Bắc Giang - 1948 )  Phần II  gồm 44 bài thơ với tựa đề: Hoa Dứa trắngTrong bài “ Đội ngũ trùng trùng, tóc bạc lại xung phong”, nữ sĩ Anh Thơ viết tặng Hội  Phụ lão Hà Bắc, tích cực tham gia trong kháng chiến, khi hòa bình lại hăng hái xây dựng quê hương giầu đẹp:Các cụ về, rừng Bảo Đài đẽo cây tặng guốcĐồi Hiệp Hòa kính gửi cánh chè xanh,Mía An Châu tặng bánh đường thơm ngọt.Sông Đuống, sông Thương biếu áo tơ tằm Và giấy làng Hồ sẽ in tranh vàng điệp,Dáng hiên ngang núi Phượng tạo hìnhĐiệu Quan họ ngân dài dòng biếc,Tình mẹ già thắm đượm bãi dâu xanh.        Phần III gồm 40 bài thơ với tựa đề: “Quê chồng” Bà đã sáng tác nhiều bài thơ viết về  những cảm xúc khi bà đến nơi này, những xóm Mũi Cà Mau, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là chùm thơ về Côn Đảo, viết về các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Tháng 3 năm 1976 bà đã sáng tác bài “Hoa dừa trên mộ chị Sáu”:                          Dù gió chướng, dù cát rang                         Cành dừa non nước, xanh tràn cỏ gai                         Mỏng manh vẫn nét hoa cười,                       Nhớ người dưới mộ yêu đời năm nao.           Bằng tài năng văn chương vốn có, và lòng say mê sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi, nữ sĩ Anh Thơ cùng với hành trang trên con đường hoạt động cách mạng, không ngại gian khổ, qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, tinh thần dân tộc, nhà thơ và người chiến sĩ cách mạng như hình với bóng, đồng hành tạo nên một cốt cách riêng, một lối thơ riêng đầy ắp hiện thực, của một thời đại lịch sử hào hùng của dân tộc.           Có thể nói, nhà thơ Anh Thơ đã có một vị trí, một tiếng nói riêng, đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng văn học của Bắc Giang nói riêng và văn học đương đại Việt Nam nói chung. Với công lao như vây, bà đã được tặng giải thưởng VHNT Nhà nước đợt I năm 2001. Đây là giải thưởng lần thư III, giải thưởng cao quý nhất trong đời thơ của bà.           Xin trân trọng mời các bạn tìm đọc cuốn sách Thơ Anh Thơ tại kho Địa chí - Thư viện tỉnh Bắc Giang với mã số AP. 000604.Lưu Thị Hòa 

 

;?>