• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5041558
  • Số người đang xem: 40
  • Trong ngày: 693
  • Trong tuần: 28237
  • Trong tháng: 1209315
  • Trong năm: 4689335
Trang chủ

Hát then ở xã Hương Sơn, Lạng Giang

( 23:22 | 04/10/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Vi Thị Tỉnh Hát then của người Nùng cũng gần như hiện tượng “nổi đồng” của người Việt. Họ quan niệm: khi người nào có “căn số” phải làm then, thì có muốn tránh cũng không được. Người đó thường gặp nhiều điều không may đó trong cuộc sống, như: ốm đau, bệnh hoạn, thậm chí cả điên dở, bỏ nhà đi lang thang…mà không thuốc nào chữa được. Làm then sẽ là một lối thoát cho những điều không may trong cuộc sống đó. Đồng bào dân tộc Nùng quan niệm rằng: người làm then là người được các đấng thần linh cử xuống trần gian để làm người cứu nhân độ thế, “then” - “thẻn”  chính là “thiên” - trời. Bà then (pà thẻn) chính là người của trời. Hình ảnh người hát then với cây đàn tính trên tay được ví như cô tiên cầm đàn ca hát đang bay bổng giữa ngàn mây xanh. Hát then chính là hát theo mây, theo gió “thẻn mấn, thẻn pha”. Làm then được coi như một nghề nghiệp riêng của đồng bào Tày – Nùng. Với dân tộc Nùng ở Bắc Giang nói chung và dân tộc Nùng ở xã Hương Sơn nói riêng, thì người làm then thường là phụ nữ, rất ít đàn ông làm, đàn ông hát then gọi là “then pực” – then đực.  Trong đời sống tâm linh của người Nùng, khi gặp bất cứ điều gì không thể lý giải nổi hoặc muốn cuộc sống của bản thân, gia đình, bố mẹ, con cháu được bình yên, mạnh khoẻ, “nhẹ nhàng” thì thì họ tìm đến bà then để được nghe đàn, nghe hát. Những lời ca, tiếng hát theo mây theo gió của bà then sẽ vang thấu và đưa những lời cầu xin của gia chủ đến tới các đấng thần, phật, ngọc hoàng …  Loại trừ yếu tố mê tín dị đoan đi thì sinh hoạt hát then thật sự là buổi sinh hoạt văn nghệ “trấn an” tinh thần. Gia chủ đến xem sẽ được chứng kiến buổi biểu diễn độc đáo tài tình của nghệ nhân, họ vừa hát, vừa đàn, rung - lắc người, thậm chí còn đi nhạc ngựa và múa…Những lời ca tiếng hát trầm bổng của bà then sẽ đưa con người bước vào một thế giới tâm linh huyền bí. Mỗi một bà then - ông then sẽ có một đường then riêng. Lời hát khi làm then chính là những câu chuyện dài kể về chuyến đi gian nan vất vả của một đội quân hùng hậu có tướng, có lính, có ngựa, có vũ khí trang bị…Bà then sau khi “soi hương” xin phép tổ tiên, thần thánh sẽ hoá thân theo gió mây cùng các binh lính - cưỡi ngựa lên đường. Con đường đến với thần thánh thật xa xôi, vất vả. Họ phải trải qua nhiều chặng đường, mỗi chặng đường lại phải xử lý nhiều tình huống khác nhau: lúc gặp cướp thì phải đánh trả dữ dội; lúc gặp những thân phận éo le khốn khó lại phải giải quyết, giúp đỡ; lúc phải băng rừng, vượt suối; khi hết lương thực họ phải trang bị quân lương bằng cách săn bắn, đuổi thú rừng trên nhiều quả đồi ngút ngàn cây cối;  khi vượt biển phải cầu xin người chèo đò tha thiết; đường đi không chỉ khó khăn vất vả, mà họ cũng phải vượt qua nhiều cám dỗ, như gặp con gái đẹp…Qua mỗi một đoạn đường ấy, nghệ nhân hát then phải sử dụng nhiều cung bậc, giọng hát khác nhau. Như lúc gặp cướp thì giọng hát gấp gáp, vội vàng; khi gặp những thân phận éo le giọng hát lại ấm áp, ngọt ngào; khi săn bắn thú rừng giọng hát sẽ khoẻ khoắn, dồn dập. Khi phải cầu xin người lái đò vượt biển, giọng hát lại tha thiết, níu kéo… Một động tác không thể thiếu khi làm then, ấy là động tác phất quạt. Qua mỗi một cửa ải, bà then đều phải phật quạt  ba lần: lần thứ nhất để thỉnh tứ phương, lần thứ thứ 2 thỉnh các thầy ở cửa mây xanh mây trắng, lần thứ 3 chính là biểu tượng cho những tia chớp, tia sét…Việc của gia chủ càng nặng thì tiếng quạt phất càng to. Hỗ trợ cho nghệ nhân hát then là những người đi nhạc ngựa. Nhạc ngựa là một nhạc cụ được làm bởi nhiều móc và quả nhạc bằng chất liệu kim loại, đồng hoặc sắt. Tiếng nhạc ngựa chính là biểu trưng cho âm thanh đoàn quân chuyển bước. Kết hợp nhịp nhàng với lời hát của người làm then, người đi nhạc ngựa cũng phải điều khiển tiếng nhạc ngựa sao cho phù hợp với mỗi một đoạn đường trong cuộc hành trình gian nan vất vả. Bình thường, người đi nhạc ngựa đi nhịp nhàng, đều và đưa tay ở dưới thấp, nhưng khi đến “đoạn đường” cần phải “phóng ngựa nhanh” thì người đi nhạc ngựa cũng phải đưa tay gấp gáp, rộn ràng hơn; thậm chí họ còn đứng lên vừa nhảy múa, vừa đi nhạc ngựa. Lúc này, bà then và những người giúp việc nghỉ ngơi và ăn cháo đêm, uống rượu. Trước khi nghỉ và ăn, bà then thỉnh các đấng thần linh và tổ tiên “ăn thịt và uống tiết hươu nai” cho khoẻ mạnh. Đây cũng là cái cớ để người hát then cùng mọi người nghỉ ngơi, lấy lại sức khi “trải qua một chặng đường dài đầy khó khăn, thử thách”. Thời điểm này thường vào lúc 12 h - 1 h đêm. Bình thường mỗi một cuộc làm then phải hết trọn một buổi tối, thì đoàn quân sẽ đến đích, gặp thần thánh, gặp Nam Tào - Bắc Đẩu xoá hết mọi kiếp nạn của gia chủ, sau đó mới khao lễ quay về, kết thúc một buổi làm then. Với đời sống tâm linh như thế, nên khi làm nhà, cúng sinh nhật cho bố mẹ, đầu năm mới cúng cầu an - giải hạn, trẻ em quấy khóc… người Nùng đều tìm đến bà then để nhờ cúng cầu thần linh hay gửi vía. Được bà then giúp đỡ, tâm lý thoải mái, mọi vấn đề rắc rối trong cuộc sống được gỡ bỏ… thì những người này sẽ nhận làm con hương của bà then.Trong năm, thời gian mà người Nùng đi xem và mời bà then về cúng thường vào mùa xuân và mùa thu. Làm then thường được làm vào buổi tối. Khi đã mời được bà then đến nhà mình cúng lễ, ngay từ chiều hôm trước, gia đình gia chủ sẽ chuẩn bị, như: lễ vật cúng, cỗ bàn và tập hợp những người ruột thịt, thân thiết.Trong quá trình đi điều tra văn hoá hát then ở Hương Sơn nói riêng và nhiều nơi khác trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, chúng tôi nhận thấy rằng người làm then phải kiêng kỵ một số điều. Họ không được ăn những đồ ăn bị coi là hôi tanh, như thịt trâu, thịt chó, tỏi… không để tay đụng vào những thứ hôi hám (làm then là một nghề nên ít khi họ làm đồng ruộng như người khác). Đồng thời, trong lúc đang làm then, họ rất kiêng việc có vía lạnh đến gần (những người vừa ở đám hiếu ra không được ngồi gần họ). Những người làm then ở xã Hương Sơn thường cúng then ở các lễ sau: cúng cầu an (Pèng ến) - còn gọi là cúng giải hạn, cúng Sinh nhật (Pù sảng lường), cúng nhà mới (Án hờn), cúng chuộc hồn (Shuộc huồn), cúng tổ tiên (Kà sthến), cúng cắt tiền duyên.Nghề làm then cũng có cấp bậc, và cấp bậc ấy được gọi là quai. Mỗi một lần lên cấp được gọi là thăng chức (lẩu then). Mỗi một lần tổ chức lẩu then, người tổ chức rất tốn kém về tiền của và thời gian. Thời gian thường kéo dài 2 đêm ba ngày, để làm lẩu then. Người làm then phải mời từ 3-4 thầy cúng đến làm lễ cúng, mời từ 3-4 bạn làm then cùng với dân làng, họ hàng thân thích. Số tiền chi phí của mỗi cuộc lẩu then ít nhất là 10 triệu đồng. Mỗi một lần tổ chức lẩu then, người làm then được các thầy làm lễ tăng thêm một cấp gọi là tăng hai quai.Số người làm then ở Hương Sơn có 4 người, họ đều là phụ nữ, lứa tuổi từ 40 đến 55 tuổi. Ở thôn Hố Cao có 3 người, đó là: bà Vương Thị Vèn, Vi Thị Lả và bà Chu Thị Hồng Vân (1968). Ở thôn Cầu Cối có bà Đàm Thị Mùi là nghệ nhân hát then, làm then có uy tín.Nghệ nhân hát then Đàm Thị Mùi, thôn Cần Cốc, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, dân tộc Nùng, sinh năm 1955, bắt đầu biết hát then (làm then) từ năm 1975. Bà thường đi làm then ở các làng,bản trong vùng và huyện Hữu Lũng, Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn. Bà Mùi có cấp bậc 13 quai, tương đương cấp bậc của bà Vân ở thôn Hố Cao.Hát then ở xã Hương Sơn còn lưu giữ được khá nhiều làn điệu phong phú đặc sắc. Hát then nơi đây không chỉ dừng lại ở các buổi làm then liên quan đến tâm linh -  tín ngưỡng, mà còn được các cấp chính quyền quan tâm, tạo điều kiện cho các nghệ nhân được giao lưu, học hỏi và thể hiện qua các buổi liên hoan văn nghệ.

;?>