• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 5041280
  • Số người đang xem: 12
  • Trong ngày: 415
  • Trong tuần: 27959
  • Trong tháng: 1209037
  • Trong năm: 4689057
Trang chủ

Bảo tồn hát then và đàn tính ở Bắc Giang

( 23:41 | 04/10/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

 

Ngô Văn Trụ

So với các dân tộc thiểu số ở Bắc Giang, người Tày và người Nùng có dân số đông hơn, người Nùng khoảng 67.000 người, người Tày xấp xỉ 38.000 người. Vào những năm đầu của thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày, Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang, tập trung ở 5 huyện: Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Họ sống và định cư độc lập ở các làng bản riêng và có truyền thống văn hóa, phong tục tập quán riêng. Bản sắc văn hóa riêng ấy trải qua nhiều bước thăng trầm xã hội vẫn tồn tại trong đời sống của người Tày, người Nùng. Những làn điệu dân ca được bảo tồn và phát huy rất tốt như Soong hao, Sli, Lượn, Then…Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà hiện nay, then và đàn tính, một di sản văn hóa quý báu của người Tày và người Nùng- đang có sự mai một, thất truyền. Phải nói rằng, trước hết then là sản phẩm của người Tày-Nùng, với bối cảnh xã hội trong quá khứ, niềm tin và nghi lễ luôn luôn phải gắn bó với nhau, niềm tin và ước nguyện được thông qua và thể hiện bằng các nghi lễ, vì thế mà có các hình thức then khác nhau như: Kỳ Yên (cầu mong cho mưa thuận gió hòa), Giải hạn (cầu mong tránh khỏi tai họa), Lẩn ẻn (xem duyên phận của các đôi trai gái), Mừng thọ (lời cầu chúc cho người cao tuổi được sống lâu), Lẩu then (then cấp sắc) cùng các loại múa, múa hái hoa, múa kiếm, múa chèo thuyền, đoàn quân sluông múa chầu trong cung đình v.v…

Trong bối cảnh xã hội ngày nay, nghi lễ và niềm tin đó có sự biến đổi, do nhận thức và tiếp nhận luồng văn hóa mới nên niềm tin và hành động ngày càng xa dần. Các thế hệ sau của người Tày Nùng vẫn tiếp tục làm then, duy trì các nghi lễ then truyền thống , nhưng đã có sự thay đổi về cách ứng xử với then, về niềm tin trong các nghi lễ. Do đó một số nghi lễ không phù hợp với cuộc sống mới, như lễ cầu mùa, cầu đảo mang tính tập thể không còn, các hoạt động trong đám lẩu then, cấp sắc cũng giảm về thời gian và lược bớt nhiều thủ tục.Những cuộc di dân từ miền xuôi lên miền núi, người Việt từ Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Ninh (Gia Lương, Thuận Thành, Yên Phong…) lên định cư ở các huyện miền núi, sống xen kẽ với đồng bào, dần dần văn hóa người Việt có phần lấn át. Cũng do sống xen canh, xen cư, văn hóa người Việt lại quá đậm nét nên trong chỉ đạo của ngành văn hóa cũng có phần lệch hướng chỉ chủ ý quan tâm văn hóa Việt, như tuồng, chèo, quan họ, hát ả đào… mà ít chú ý đến dân ca của đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ thực tế đó nên một thời đồng bào dân tộc tự ti, đã chối bỏ dần truyền thống văn hóa của mình, như: ẩm thực, ở, mặc, đi lại và cả di sản văn hóa phi vật thể nữa. Những vấn đề đó thực sự khó khăn cho việc khai thác, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của đồng bào dân tộc ít người ở Bắc Giang. Từ năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Hà Bắc, Bắc Giang là tỉnh miền núi, thì vấn đề văn hóa dân tộc được quan tâm hơn, đã có nhiều biện pháp, đi đôi với chính sách trên lĩnh vực bảo tồn nên phong trào hát dân ca có nhiều chuyển biến tốt. Hát giao duyên, hát hội được tổ chức thường xuyên ở mỗi làng, bản trong dịp mùa xuân mùa lễ  hội. Những điệu hát sli, lượn, soong hao xưa kia của ông cha, nay  đã truyền lại cho con cháu giữ gìn. Đặc biệt, hát then một loại hình nghệ thuật dân gian, diễn xướng, phục vụ nhu cầu tâm linh và các nghi lễ tín ngưỡng của đồng bào Tày, Nùng cũng dần được điều tra, nghiên cứu, khai thác và bảo tồn. Ở Bắc Giang, những người làm nghề then (là ông then, bà then) không nhiều như Lạng Sơn, Thái Nguyên, nhưng các ông Then, bà Then còn lại hiện nay vẫn giữ được đầy đủ nghi lễ của loại hình nghệ thuật dân gian này, từ trang phục, đàn tính, nhạc xóc v.v… tiêu biểu như: bà Hoàng Thị Táy trại Láng, xã Vô Tranh, huyện Lục Nam; Bà Hoàng Thị Lộc bản Nhùng Xá, xã Hữu Sản, Sơn Động…. Mỗi khi Tết đến, xuân về, các bà thường tham dự tổ chức các cuộc then hắt khoăn, cái cầu- tẩu số (bắc cầu- nối số) cho người già, trẻ nhỏ đau ốm, cắt rạng cho nam, nữ muộn chồng, muộn vợ, muộn con để cầu mong cho mọi người trong các gia đình người Tày, Nùng mạnh khỏe, yên vui, mọi điều bất hạnh của năm cũ qua đi, mong sang một năm mới hạnh phúc hoà thuận, làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu, thóc ngô đầy bồ, gà vịt đầy sân. Qua trao đổi, các bà còn cho biết vẫn tổ chức các hoạt động hát then. Bà Táy kể lại: Rịp khoăn (xem bói) về vận hạn, Hắt khoăn- vừa hát ngân nga vừa hát đàn tính và xóc nhạc lại vừa nói chuyện với người đến dự cuộc làm then. Các cuộc lẩu then có thể kéo dài 3 ngày 3 đêm, ví dụ then hắt khoăn có 13 chương đoạn như sau: Soi hương (mở đầu); khẩu tu chỏ (nhập bàn thờ tổ); nộp lệ (nộp lễ); sắp mạ xẩu lệ lồng tàng (tập hợp binh mã và đồ lễ lên đường) ở phần này tuỳ theo ông then, bà then tuổi gì thì được phép sắm bao nhiêu binh mã, ví như người tuổi Dậu nắm quân âm binh nhiều nhất là 101.000 quân, người tuổi tuất nắm số âm binh nhất là 6000 quân; Hắt bjoóc (lấy hoa); khẩu tu phầy (đến vua bếp); khẩu thó công (vào thổ công); Mè cốc mè nà (bà cả bà hai); khao hạn, khảm hải (vượt biển); Slống slửa khoăn (đưa áo vía). Trong các cuộc then ấy thường lược bớt giữa cái hay, loại bỏ cái không phù hợp và thời gian tổ chức ngắn hơn, hợp lý hơn.Bà Chu Thị Vân người Nùng ở Hương Sơn (Lạng Giang) có vốn then và đàn tính rất phong phú, bà là nghệ nhân không những vừa bảo tồn, vừa truyền dạy mà còn khai thác lồng ghép giữa then và dân ca giao duyên rất tài tình đưa lời thơ Nhi a soong hao vào lời then rất ngọt ngào. Nghệ sĩ nhân dân Lê Khình cho rằng đây là làn điệu đặc biệt ở then Bắc Giang cần nghiên cứu và tìm hiểu thêm.Cùng với hoạt động hát Then, đàn tính của các nghệ nhân, phong trào hát Then, đàn tính cũng đang được phục hồi và phát huy, nhất là loại hình đặt lời mới cho hát Then như ở Tân Sơn (Lục Ngạn), Hữu Sản, Vĩnh Khương (Sơn Động), Hương Sơn (Lạng Giang), Vô Tranh (Lục Nam), Canh Nậu (Yên Thế) v.v…Để tiếp tục bảo tồn và phát huy đẩy mạnh phong trào hát Then, đàn tính ở Bắc Giang trong thời gian tới, Sở Văn hóa-Thông tin chỉ đạo triển khai và thực hiện một số giải pháp sau:a- Tiếp tục nghiên cứu về hát Then- đàn tính ở các làng bản; tăng cường công tác tuyên truyền làm cho mọi người hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về loại hình di sản văn hóa phi vật thể này. Làm tốt công tác nghiên cứu, chúng ta sẽ có cách nhìn nhận đánh giá đúng thực trạng về quy trình hình thành, giữ gìn, trao truyền, tiếp tục sáng tạo kho tàng Then ở mỗi làng, mỗi bản. Từ đó có ứng xử đúng đắn với loại hình di sản văn hóa này.b- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động sưu tầm, bảo vệ, phát huy, giá trị văn hóa của loại hình hát then và đàn tính.- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lập hồ sơ pháp lý và khoa học cho việc bảo tồn then và đàn tính (ở một bản, một xã) có truyền thống, ghi băng, ghi hình và tiến hành bảo tàng sống ở mỗi làng bản.- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng các quy định pháp luật đồng thời chủ động xây dựng và triển khai thực hiện tốt các quy định của địa phương về bảo tồn và phát huy giá trị di sản hát then và đàn tính ở mỗi làng, bản.- Thành lập các đội văn nghệ, các câu lạc bộ hát then, đàn tính. Tạo điều kiện cho các nghệ nhân dạy và truyền nghề cho các thế hệ sau để bảo tồn, phát huy nghệ thuật hát Then và đàn tính.Hàng năm vào dịp đầu xuân và dịp lễ hội tổ chức hát Then đàn tính và tổ chức hội thi, hội diễn chuyên đề về loại hình nghệ thuật này.Và để phát triển Then cũng cần có sự cải biên, nâng cao về lời thơ, giai điệu âm nhạc, hòa thanh- phối khí để nâng cao hiệu quả của nhạc Then.c- Trường Trung học Văn hóa-Nghệ thuật đưa nghệ thuật hát then và đàn tính vào giảng dạy trong chương trình chính khóa cho các lớp năng khiếu và quản lý văn hóa.   những giải pháp như vậy mới tạo sự đồng bộ giữa nghiên cứu, quản lý, giảng dạy và tổ chức hoạt động xây dựng phong trào, tạo cơ sở vững chắc cho việc sưu tầm bảo lưu, giữa gìn và phát triển các giá trị nghệ thuật hát then và đàn tính trong điều kiện mở cửa, giao lưu hiện nay mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc./.

 

;?>