• Kể từ 01/3/2019 Địa chỉ trang thông tin Sở VHTTDL Bắc Giang đăng nhập theo địa chỉ https://svhttdl.bacgiang.gov.vn
Liên kết

 

 

 

Thông kê truy cập
  • Tổng số lượt: 4301340
  • Số người đang xem: 50
  • Trong ngày: 4115
  • Trong tuần: 38501
  • Trong tháng: 469097
  • Trong năm: 3949117
Trang chủ

Làng nghề tiêu biểu ở Bắc Giang

( 00:01 | 05/10/2010 ) Bản để inGửi bài này qua Email

Nguyễn Thu Minh

Bắc Giang là vùng đất nằm trong vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, được bồi đắp nên phù sa bởi những con sông lớn, như: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, có các dải núi cao với nhiều lâm thổ sản quý, lại có cả một vùng trung du rộng lớn thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp. Là vùng trung chuyển sản vật giữa hai miền xuôi ngược, vì vậy thủ công nghiệp ở Bắc Giang xuất hiện từ khá sớm và nó cũng tương đối đa dạng, không đơn điệu, nghèo nàn như vùng núi cao, nhưng cũng chưa phong phú như ở vùng đồng bằng châu thổ. Theo dòng chảy của thời gian, những nghề thủ công ấy luôn tồn tại và phát triển trong môi trường nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là trong những làng cổ, để định hình nên những làng nghề truyền thống. Những làng nghề ấy không chỉ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo riêng mang tính nghề nghiệp, mà đó còn là nơi bảo lưu, gìn giữ bền vững những tập quán được coi là cổ xưa.  Có thể hiểu nôm na rằng, làng nghề là làng cổ mà người dân chuyên làm nghề thủ công. Trong làng ấy, những người nông dân chuyên sản xuất ra các mặt hàng thủ công truyền thống, từ đó hình thành nên làng nghề. Ở những làng nghề ấy, người ta vẫn thường gọi tên sản phẩm kèm theo tên làng đã làm ra nó. Đó là những làng nghề thủ công truyền thống có lịch sử từ rất lâu đời và trong suốt thời gian dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, nó vẫn không ngừng phát triển để tạo nên những làng nghề nổi tiếng. Ở mỗi làng nghề, việc tổ chức sản xuất theo từng hộ gia đình là nét đặc trưng phổ biến. Người nghệ nhân cũng đồng thời là chủ gia đình, vừa điều hành mọi hoạt động sản xuất, vừa truyền dạy nghề cho con cháu, đồng thời cũng là người sáng tạo mẫu hàng, chịu trách nhiệm kỹ thuật và tính toán kinh doanh. Trong gia đình, mỗi người đảm đương một công việc, họ cùng làm với nhau, bảo ban nhau, truyền dạy kinh nghiệm làm nghề cho nhau, vì thế truyền thống của nghề đã được lưu truyền một cách tự nhiện từ đời này sang đời khác.  Làng nghề trồng dâu nuôi tằm: Nằm ở vị trí ven sông Cầu, làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà là một làng cổ có cảnh quan khoáng đạt, với cuộc sống bình yên sau luỹ tre, bên những nương dâu xanh mướt. Trong làng Mai, hộ nào không ươm tơ thì cũng trồng dâu chăn tằm. Cả làng có tới 270 hộ nuôi tằm, 20 hộ ươm tơ. Lợi ích kinh tế của nghề này đã được dân gian tổng kết bằng câu: "nuôi lợn cả năm không bằng nuôi tằm một lứa". Theo thống kê, làng Mai Thượng có tới 60 mẫu đất trồng dâu, mỗi hộ trung bình có 5- 6 sào lúa, 3 sào dâu. Tuy ruộng lúa nhiều hơn diện tích dâu nhưng cũng chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu lương thực. Để duy trì cuộc sống, người dân phải trông chờ vào nghề trồng dâu nuôi tằm. Vì thế, dù trải qua bao biến cố, thăng trầm, cây dâu con tằm vẫn cùng người dân làng Mai đi lên trên con đường đổi mới.Làng nghề Mây tre đan Phúc Tằng (huyện Việt Yên): có từ hàng ngàn năm nay, là một nghề cha truyền con nối. Sản phẩm của Phúc Tằng bao gồm các loại: hàng phục vụ sản xuất, hàng tiêu dùng. Do sự phát triển của cơ chế thị trường, ngày nay, người dân làng nghề Phúc Tằng còn làm thêm nhiều mặt hàng mỹ nghệ cao cấp từ cây tre, dùng và mây. Với đôi bàn tay khéo léo cộng với bản chất cần cù và một số bí quyết khi làm nghề đã tạo cho sản phẩm mây tre đan của Phúc Tằng có đường nét riêng, không bị lẫn với bất kỳ sản phẩm của nơi nào khác. Từ lúc chỉ có vài hộ dân ở xóm 7, đến nay nghề này đã lan ra toàn xã chiếm 70% tổng số hộ, với gần 6000 lao động trong đó có 1/2 lao động phụ. Giá trị kinh tế trung bình mỗi năm từ 11 đến 13 tỷ đồng, chiếm khoảng 50- 55% tổng thu nhập, là nguồn thu chính của người dân địa phương.Làng gốm Thổ Hà (huyện Việt Yên): Sản phẩm của gốm Thổ Hà chủ yếu là gốm dân dụng và gia dụng. Với bàn tay khéo léo của người thợ gốm Thổ Hà, họ còn sản xuất được nhiều mặt hàng mỹ nghệ được nhiều người ưa thích. Hàng gốm Thổ Hà sản xuất ra được đem bán ở khắp vùng Kinh Bắc xưa và nhiều nơi xa xôi khác. Gốm Thổ Hà không tráng men, nhưng người thợ gốm ở đây đã đạt đến trình độ cao về kỹ thuật nung. Họ đã khống chế, điều chỉnh nhiệt độ trong lò để tạo ra một lớp men màu sẫm như da lươn, có độ bền rất cao, gõ lên gốm có tiếng kêu coong coong như thép. Ngoài kỹ thuật làm đất thì việc sử dụng bàn xoay là một quy trình kỹ thuật khéo léo, để tạo ra những sản phẩm đẹp và có giá trị trong việc sử dụng tạo nên nét riêng biệt của gôm Thổ Hà. Nghề nấu rượu làng Vân (huyện Việt Yên): Mọi người trong vùng đều khẳng định rằng: nghề nấu rượu ở làng Vân có từ khi bắt đầu có làng. Cụ tổ nghề của làng không ai được biết bởi qua bao phen loạn lạc, thần phả bị mất, đình làng đã bị đốt cháy. Lại có người bảo rằng, người làng Vân xưa cũng có tục thờ thánh sư nghề nấu rượu. Tổ nghề được thờ là bà Nghì Điệt- chính thất của Vũ Vương. Vì Vũ Vương thích rượu ngon nên bà đã tìm ra cách pha chế được một loại men quý để cất rượu. Sau đó bà truyền nghề cho dân và dân làng Vân thờ Thánh sư vào ngày mồng 7 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm. Còn các bậc cao niên ở làng Vân thì truyền rằng, vào năm Chính Hoà thứ 24 (1703), nhà nước phong kiến lúc đó đã phong cho thành hoàng làng Yên Viên là “Thượng đẳng thần”. Các bô lão lên Kinh rước sắc phong, có đem theo ba bình rượu để tiến vua, đã được vua Lê khen tặng 4 chữ “Vân hương mỹ tửu”. Nghề nấu rượu ở làng Vân có một bí quyết riêng. Nấu rượu bằng gạo nếp hay gạo tẻ, là tuỳ theo khách đặt hàng, nhưng loại rượu nào cũng đạt chất lượng tốt nhất, ngon nhất. Ngoài nguyên liệu chính là gạo, thì bí quyết để nấu rượu ngon còn phụ thuộc nhiều vào công thức chế biến và chất lượng của men rượu. Nếu đựng bằng hũ sành (là gốm Thổ Hà) thì rượu làng Vân sẽ ngon hơn. Làng bún Đa Mai (thành phổ Bắc Giang): Nghề làm bún ở Đa Mai xuất hiện tương đối sớm (khoảng 400 năm), là một trong bốn làng nghề làm bún cổ xưa của miền Bắc. Làm bún là một nghề nặng nhọc, vất vả và rất công phu, với 15 công đoạn, từ chọn gạo, đãi gạo, ngâm gạo, xay bột, ngâm bột, nén bột; cắt quả bột và buộc bột; giã bột; ra bột và nháo bột; lọc bột; vặn bột vào nồi hay còn gọi là khâu tạo thành sợi bún; Vớt bún ra chậu hoặc thau; bắt bún; bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Bún Đa Mai có sợi dẻo, ăn mát, bổ, có thể để cả ngày cũng không bị chua và lại có màu trắng muốt như bột lọc.Hiện Đa Mai có 220 hộ làm bún, mỗi ngày sản xuất ra khoảng 7 tấn. Nghề làm bánh đa Kế (thành phố Bắc Giang): Không ai hiện còn nhớ bánh đa Kế có từ bao giờ, chỉ biết rằng từ đời ông cha xưa sản phẩm này đã nổi tiếng khắp nơi. Nguyên liệu làm bánh đa là gạo tẻ, khoai lang, lạc, vừng. Cách làm bánh cũng khá công phu. Kỹ thuật nướng bánh lại cần có kinh nghiệm để bánh được chín đều, màu vàng nghệ, thơm mùi lạc, vừng. Trong vòng 10 năm trở lại đây ngoài chiếc bánh đa đa mặn, ở Kế còn làm thêm bánh đa ngọt và bánh đa thập cẩm. Hiện cả làng Kế có hơn 80 gia đình làm bánh đa. Gia đình nào đông lao động có thể chế biến tới một tạ rưỡi gạo một ngày, nếu  neo người cũng làm dăm bảy yến gạo. Bình quân một ngày cả làng tiêu thụ hết 10 tấn gạo, cho ra lò gần 100 ngàn chiếc bánh đa. Ngoài những làng nghề tiêu biểu kể trên, ở Bắc Giang còn có các làng nghề khác, như nghề rèn ở Đức Thắng (Hiệp Hòa), nghề đan dọ tôm ở Song Khê (Yên Dũng), nghề làm giấy gió của người Cao Lan ở bản Khe Nghè (Lục Nam), nghề mò Ngọc trai ở làng Tiên La (Yên Dũng).... Mỗi làng nghề thủ công cổ truyền ở Bắc Giang đều làm phong phú và tô đậm thêm bản sắc văn hoá của dân tộc. Nó không chỉ để lại cho đời sau nhiều sản phẩm tinh xảo, nhiều công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao mà văn hoá ở mỗi làng nghề còn là cảnh quan, phong tục tập quán, lễ hội, các loại hình văn hoá dân gian đặc sắc... Hiện nay, làng nghề còn là địa điểm thu hút ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu, khách du lịch trong và ngoài nước hướng tới./.

;?>